nu huong

Sơ lược về Xông hương (1)

Cập nhật gần đây: 05/01/2026

Tác giả: Triều Huy (朝晖)

Nguồn gốc của xông hương

Xông hương (còn gọi là “hương xông”) là việc dùng một hoặc nhiều loại hương liệu bằng cách tỏa hương tự nhiên, hơ nóng hoặc đốt để làm cho hương liệu thực vật phát ra mùi thơm; thông qua hương khí và làn khói tạo thành một trường năng lượng, từ đó đạt được tác dụng dưỡng sinh và trừ bệnh.

Vào thời Tiên Tần, con người dùng hương thơm tự nhiên của thức ăn để tế lễ, hoặc dùng hương thơm tự nhiên của thực vật để thanh tịnh thân thể. Ví dụ, trong Kinh Thi • Đại Nhã • Sinh Dân có chép: “Ngã thịnh ư đậu, ư đậu ư đăng. Kỳ hương thủy thăng, thượng đế cư hâm.” Ý nói rằng, ta đem tương thịt dùng trong tế lễ và nước thịt không nêm gia vị đặt trong lễ khí gọi là đậu và đăng. Hương thơm tự nhiên của những thức ăn không thêm bất kỳ gia vị nào này bốc lên trời, Thượng Đế thụ hưởng những thức ăn và hương khí ấy.

Ngoài ra, theo Thượng Thư • Chu Thư • Quân Trần chép rằng: “Chí trị hinh hương, cảm ư thần minh. Thử tắc phi hinh, minh đức duy hinh nhĩ.” Chữ “chí trị” trong văn này chỉ “thời đại thiên hạ đại trị”, tức là thời kỳ các bậc thánh vương như Nghiêu, Thuấn, Vũ còn tại thế. Theo sử sách ghi chép, khi những thánh vương này còn sống, thiên hạ được trị đến mức đường không ai nhặt của rơi, đêm không cần đóng cửa, dân chúng đều tôn trọng đạo đức, nhà ngục thường trống không (linh ngục thường không), không có người phạm tội, thậm chí “bỉ ốc khả phong” (thời thượng cổ, đức giáo hóa của thánh vương lan khắp bốn bể, nhà nhà đều có đức hạnh, đáng được biểu dương). Vì vậy, “chí trị hinh hương, cảm ư thần minh” có nghĩa là trong thời đại thiên hạ đại trị như vậy, toàn bộ xã hội đều tỏa ra một mùi hương thanh khiết, có thể cảm động đến thần minh. Nói cách khác, điều mà thần Phật mong muốn chính là toàn xã hội có phẩm chất đạo đức cao thượng. “Thử tắc phi hinh” là nói mùi hương tỏa ra từ các loại ngũ cốc như kê, tắc khi dùng trong tế lễ vẫn chưa thể xem là hương thơm chân chính. Chỉ có đạo đức cao thượng (minh đức) mới là hương thơm duy nhất, đó mới là điều mà trời cao và thần minh cần.

Việc dùng hương thơm tự nhiên của thực vật để thanh tẩy bản thân cũng được ghi chép trong chính sử, như trong Tả Truyện • Tuyên Công năm thứ ba: “Vì lan là loài hương thảo cao quý nhất trong các loài hoa thơm, người ta đeo nó, người khác sẽ yêu quý như yêu quý hoa lan vậy.” Sách Sở Từ • Ly Tao: “Hái lấy giang ly và bạch chỉ, kết cùng hoa lan mùa thu để đeo bên mình.” Việc đeo lan, hồi, chỉ, tôn, đỗ nhược, giang ly (mễ vũ) và các loại hương thảo khác, cùng với việc xông hương bằng mùi thơm tự nhiên tỏa ra từ chúng, đã trở thành một phong tục lưu truyền đến ngày nay, được các văn nhân và dân thường yêu thích qua các đời. Đời Đường, Lục Quy Mông trong bài “Mỹ Nhân”: “Vẫn muốn hiểu lòng quân, sáng sáng đeo lan nhược (hoa lan và đỗ nhược).” Đời Đường, Ôn Đình Quân trong bài “Bệnh Trung Thư Hoài Trình Hữu Nhân”: “Phóng khoáng tâm hồn gần gũi với hồi lan và bạch chỉ, thu mình khác với những người già khác, không như đa số người già thích đi lại trò chuyện.” Đời Tống, Hạ Chú trong bài “Quán Thị Tự Cư Thư Hoài”: “Tùy hứng làm thơ mới khắc lên bia đá (chỉ việc khắc thơ mới sáng tác lên bia đá, hoàn nghiễm vốn là tên của hai loại ngọc khuê, trong cổ Hán ngữ cũng dùng để chỉ bia đá), ít gặp khách phong nhã nên đeo lan tôn (tức là thạch xương bồ) để tự vui.”

Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, việc ghi chép rõ ràng về xông hương (chỉ phương pháp đun nóng hoặc đốt cháy) bắt đầu từ thời Hán. Chu Gia Trữ, một bậc thầy về đạo hương đời Minh, trong cuốn “Hương Thừa” không chỉ ghi lại phương thức pha chế hương của cung đình thời Hán (hương trong cung Kiến Ninh thời Hán), mà còn ghi lại một phương thức pha chế hương thời Đường (hương trong cung Khai Nguyên thời Đường). Lư Bác Sơn và túi thơm cũng bắt đầu xuất hiện từ thời Hán.

Còn việc dùng trầm hương thuộc tính dương để tế trời, theo chính sử ghi chép bắt đầu từ Lương Vũ Đế Tiêu Diễn. Theo Tùy Thư • Quyển Lục • Chí Đệ Nhất • Lễ Nghi Nhất ghi lại: “(Năm Thiên Giám thứ ba) lại dùng trầm hương ở Nam Giao Minh Đường, vì lấy bản chất của trời, thuộc dương là phù hợp. Bắc Giao dùng thượng hòa hương, vì đất gần gũi với người, nên thêm các loại hương liệu khác.” Nam Giao của Hoàng thành là nơi có ruộng tịch điền của thiên tử, Minh Đường ở Nam Giao là nơi tế trời; Bắc Giao là nơi tế đất. Khi tế đất dùng hợp hương thượng hạng (hòa hương), tức là trộn thêm các loại hương liệu khác vào trầm hương để tạo thành hợp hương. Trong cổ văn, hễ nói đến “trầm hương” đều là trầm hương chìm trong nước, còn trầm hương dùng để tế trời thời cổ đại là chỉ loại trầm hương kết tinh từ dầu trong lõi cây bạch mộc thuộc họ daphne mọc ở sườn nam của núi, loại trầm hương này chính là thứ mà giới chuyên môn ngày nay gọi là “kỳ nam trầm hương[1]”.

Tóm lại, vào thời Tiên Tần, lễ vật cúng tế thần minh chỉ lấy mùi thơm tự nhiên, không chuyên biệt đốt hương liệu [2]. Thời Tần Hán kế thừa điều này, dù đến thời Hán đã xuất hiện cách xông hương bằng đốt (như lư Bác Sơn), cũng chỉ là người dùng. Từ Lương Vũ Đế trở đi, trên cơ sở lễ vật ban đầu, thêm việc dùng trầm hương và các loại hương liệu khác để tế trời đất, và tiếp tục được sử dụng như vậy cho đến thời nhà Thanh. Nghĩa là vừa dâng lễ vật vừa dâng hương. Sách Tống Sử • Quyển Chín Mươi Tám • Cát Lễ Nhất: “Người đời Chu dùng khí vị để thờ thần, đời gần đây thay bằng hương.” Trong văn bản, chữ “xú” đọc là “tú”, có nghĩa là mùi vị; “sự thần” nghĩa là “tế lễ trời đất thần minh”.

Phong tục đeo hương thảo của người xưa thời Tiên Tần vẫn còn được lưu truyền đến ngày nay, còn túi thơm bắt đầu xuất hiện sau thời Đông Hán, tất cả đều nhằm mục đích dùng hương thơm tự nhiên của thực vật để trừ khí bệnh và tà khí trên thân người, hoặc để giữ cho thân thể thơm tho.

Khi xông hương bằng cách đốt, hương thơm sinh ra và lan tỏa theo khói, hương tốt không chỉ có thể bay đi rất xa. Nó còn có thể xuyên qua không gian này đến không gian khác, vì vậy từ xưa đến nay đều có truyền thuyết rằng “hương là cầu nối thông với thần linh”. Xông hương còn có một tác dụng quan trọng nữa là, thông qua việc phối hợp các loại hương theo một phương pháp nhất định, khi đốt lên có thể đạt được mục đích dưỡng sinh và chữa bệnh. Phương pháp xông hương có dùng hương vòng, hương que và hương phiến (xuất hiện từ đời Đường) v.v., mà theo tôi phương pháp xông hương hiệu quả nhất chính là dùng hương phiến (còn gọi là hương triện). Trong Toàn Đường Thi, Toàn Tống Thi có nhiều bài thơ đề cập đến hương phiến hoặc triện hương[3].

Xong huong 1 1
Xông hương. (Trích từ Triều Huy Hương Đạo (朝晖香道) Weibo)
Xong huong 2
Lư hương và các loại khuôn hương triện. (Trích từ Triều Huy Hương Đạo (朝晖香道) Weibo)

Hương triện được làm từ bột hương đơn lẻ hoặc hỗn hợp bột hương được tạo thành các mẫu chữ hoặc hoa văn. Do bột hương không có chất kết dính, nên sau khi làm xong hương triện cần đốt càng sớm càng tốt, và sau khi đốt nên hạn chế di chuyển lư hương, nếu không bột hương sẽ không giữ được hình dạng nguyên vẹn và không thể cháy hoàn toàn.

Hương triện ngày nay tuy có hình thức tương tự như của người xưa, nhưng bản chất lại hoàn toàn khác biệt.

Phân chia âm dương của vạn vật

Lão Tử nói: “Vạn vật cõng âm mà ôm dương” (Đạo Đức Kinh), nghĩa đen là: trong vạn vật đều tồn tại đặc tính âm dương. Lấy cơ thể người làm ví dụ, đạo gia xem bên trái cơ thể là dương, bên phải là âm; mặt trước là âm, lưng là dương; da bên ngoài là dương, tạng phủ bên trong là âm; vân vân. Nghĩa là, cơ thể người tự nó phân chia âm dương. Thực vật cũng vậy, tự thân có đặc tính âm dương, chỉ là do môi trường sinh trưởng khác nhau mà có cây tính dương nhiều hơn âm, có cây tính âm nhiều hơn dương.

Sách Chu Lễ • Địa Quan Tư Đồ • Sơn Ngu viết: “Giữa đông chặt gỗ dương, giữa hạ chặt gỗ âm. (Tháng 11 âm lịch lấy gỗ dương, tháng 5 âm lịch lấy gỗ âm)” Đông Hán • Trịnh Huyền chú giải: “Gỗ dương mọc ở phía nam núi, gỗ âm mọc ở phía bắc núi. Mùa đông chặt gỗ dương, mùa hạ chặt gỗ âm.” Nghĩa là, người xưa gọi cây mọc ở sườn nam của núi là gỗ dương, cây mọc ở sườn bắc là gỗ âm. Tháng 5 âm lịch, sao Đại Hỏa (sao Tâm) ở giữa trời, đây là tháng nóng nhất trong năm. Lúc này đốn cây ở phía bắc núi, qua gió thổi nắng phơi, có thể nhanh chóng khử được khí âm trong gỗ, làm cho âm dương cân bằng, như vậy mới thích hợp để người ta dùng làm nhà cửa, đồ đạc, thuyền xe (nguyên lý chặt gỗ dương vào giữa đông cũng tương tự). Chu Lễ còn nói về một phương pháp cải tạo đất, cũng dựa trên sự biến hóa của đạo lý âm dương. Sách Chu Lễ • Thu Quan Tư Khấu • Tạc Thị viết: “Ngày hạ chí, ra lệnh chặt cây dương rồi đốt. Ngày đông chí, ra lệnh lột vỏ cây âm rồi tưới nước.” Người thường không hiểu tại sao Chu Lễ lại yêu cầu người ta làm như vậy.

Thực ra làm như vậy là vì vạn vật đều tồn tại đặc tính âm dương, đất trồng cây và hoa màu cũng vậy. Khi cây cối và hoa màu trải qua một chu kỳ sinh trưởng, các nguyên tố thuộc tính âm dương trong đất đã bị hấp thụ gần hết, làm sao bổ sung chúng để đất lại thích hợp cho cây cối và hoa màu sinh trưởng? Đoạn văn trong Chu Lễ này có ý nghĩa là: vào ngày hạ chí, quan Tạc Thị (tên chức quan) bảo nông dân lên núi, lột vỏ cây dương ở gần gốc phía nam núi, tìm một khoảng đất trống trong rừng hoặc vườn cây ăn quả, đốt những vỏ cây dương này thành tro để bổ sung khí dương cho đất rừng. Còn vào ngày đông chí, dùng cùng phương pháp lột vỏ cây âm mọc ở phía bắc núi, tìm một khoảng đất trống trong rừng hoặc vườn cây ăn quả, đào một hố nông đặt vỏ cây âm vào đó, tưới nước lên trên, nước sẽ thấm xuống đất và mang theo khí âm vào trong. Sau đó lấp đất lên vỏ cây và hố, không cần quan tâm nữa. Phương pháp bổ sung khí âm dương cho đất trồng hoa màu cũng như vậy, chỉ là chọn thời điểm trước khi cày cấy mùa xuân, sau khi thu hoạch mùa thu. Sách Chu Lễ • Thu Quan Tư Khấu • Tạc Thị viết: “Nếu muốn nó biến hóa, thì xuân thu thay đổi nước lửa.”

Vậy những người sống ở vùng đồng bằng làm sao phân biệt âm dương của thực vật địa phương? Người xưa nói: dựa núi ăn núi, dựa nước ăn nước. Nơi không có núi, ắt có sông lớn hoặc hồ, nếu không người ta sẽ di cư. Sách Cốc Lương Truyện • Tức Công Nhị Thập Bát Niên viết: “Nam núi là dương, bắc nước là dương.” Đông Hán • Hứa Thận trong Thuyết Văn viết: “Âm, là âm u. Là phía bắc núi, phía nam nước vậy. Theo bộ phụ, theo bộ âm.” Nghĩa là phía bắc sông là dương, phía nam là âm; ngược lại với nam bắc của núi. Trong văn thơ cổ ta thường thấy “Giang âm”, “Động Đình chi âm”, đều chỉ bờ nam của sông hoặc hồ Động Đình, nơi đó mọc lên cây âm. Cây mọc ở phía bắc sông là cây dương. Ngoài ra sách Nhĩ Nhã còn giải thích về phía đông và tây của núi: “Phía đông núi gọi là triêu dương, phía tây núi gọi là tịch dương.”

Trong Trung Quốc cổ đại, thực vật dùng để tế lễ chính thức (bao gồm ngũ cốc và rau củ) đều dùng thực vật thuộc tính dương, ngũ cốc người ăn được trồng ở phía nam núi, thảo dược càng phải hái từ phía nam núi. Kinh Thi • Phủ Điền viết: “Từ xưa có năm, nay đến ruộng nam (từ xưa muốn có mùa màng bội thu, thì phải đến phía nam núi khai phá ruộng bậc thang, phía nam núi có lợi cho nông sản sinh trưởng).” Kinh Thi • Thất Nguyệt viết: “Cùng với vợ con ta, mang cơm đến ruộng nam (đại ý: vợ con nông phu đều mang cơm đến ruộng ở phía nam núi).” Sấm xuân đầu tiên nổ ở phía nam núi, Kinh Thi • Ân Kỳ Lôi viết: “Ầm ĩ tiếng sấm, ở dương nam sơn (đại ý: chiếu chỉ của vua như sấm rền, ầm ầm vang vọng ở phía dương của núi cao).” Chu Hy chú thích: “Nam núi gọi là dương.” Kinh Thi • Thảo Trùng viết: “Lên núi phía nam, nói hái quyết (đại ý: có người lên phía nam núi, nói rằng muốn hái rau quyết).” “Lên núi phía nam, nói hái vi.” Rau quyết và rau vi đều dùng để tế lễ, nên phải hái ở phía nam núi.

Trong Trung Quốc cổ đại, triều đình chính thống và gia đình quan lại, khi tế lễ hoàng đế khai quốc hoặc tổ tiên, họ cho rằng tổ tiên sau khi mất đã chuyển sinh lên thiên giới, nên gọi là “tại thiên chi linh”, vì vậy vật liệu tế lễ chính thống nhất định phải là thuộc tính dương; ví dụ nêu trước đó, Lương Vũ Đế dùng trầm hương thuộc tính dương để tế trời, loại trầm hương này chỉ cây gỗ trắng họ Ruidaceae mọc ở phía nam núi, dầu từ lõi gỗ kết thành trầm hương; còn trầm hương chín đào từ dưới đất lên không tính, vì tính âm dương của nó sau khi chôn trong đất nhiều năm đã thay đổi, dù ban đầu là gỗ dương cũng đã biến đổi. Trong Trung Quốc cổ đại, chỉ có nhà dân thường, vì cho rằng người thân sau khi mất đã về âm phủ, mới có thể dùng nhang làm từ gỗ âm hoặc hương liệu gỗ âm (như bột bách xà) để tế lễ.

Trong tiếng Hán cổ, miễn là không liên quan đến nước (sông hồ…), mặt dương tức là mặt nam, mặt âm tức là mặt bắc. Vì vậy trước đây ruộng tịch điền của thiên tử nằm ở ngoại ô phía nam kinh đô, nơi tế trời cũng ở ngoại ô phía nam. Từ nhà Chu đến nhà Thanh đều như vậy. Hiện nay công viên Thiên Đàn ở Bắc Kinh, trước đây là nơi hoàng đế nhà Thanh tế trời, nó tọa lạc ở phía nam chính của Tử Cấm Thành.

Sở dĩ tôi dùng nhiều văn tự để nói về gỗ dương và gỗ âm, là vì nó đóng vai trò then chốt đối với sức khỏe con người, mà người hiện đại lại rất ít người quan tâm đến những vấn đề này. Nói cách khác, từ thời nhà Thanh trở về trước, cây cối phân âm dương, thảo dược phân âm dương, giống như người hiện đại cần phân nhà vệ sinh nam nữ vậy, là điều thường thức. Trong sách thuốc cổ, trong Hương Thừa về phương hương, chỉ cần là thực vật không được ghi chú đặc biệt, đều phải dùng thuộc tính dương, và lấy từ sườn nam núi là tốt nhất. Phía bắc núi là mặt âm, một số rắn độc hoặc côn trùng có độc, ưa âm, phần lớn hoạt động ở phía bắc núi, thảo dược hái ở đó không chỉ nặng khí âm mà còn có thể mang độc tính. Nếu nhất định phải dùng, cũng phải qua xử lý đặc biệt và khử khí âm mới được. Tôi xin lấy ví dụ, như hình dưới đây:

Xong huong 3
Bột hương Giáng Chân. (Lấy từ Weibo Triều Huy Hương Đạo)

Đây là bột hương Giáng Chân (còn gọi là hương Tử Đằng, hương Kê Cốt), một lọ là bột gỗ âm, một lọ là bột gỗ dương. Giáng Chân hương có nhiều công dụng, Lý Thời Trân trong “Bản Thảo Cương Mục” đã xếp nó vào “mục gỗ”, thực vật học hiện đại cho rằng nó là một loại “Đậu khoa Đàn thuộc Đằng hương”, quá trình kết hương của nó tương tự như trầm hương. “Bản Thảo Cương Mục” có ghi chép công dụng của Giáng Chân hương như sau: “[Chủ trị] Đốt lên, trừ khí thời khí, tà khí trong nhà. Trẻ em đeo theo người, trừ tà khí độc (Lý). Chữa gãy xương vết thương, cầm máu giảm đau, tiêu sưng liền da (Thời Trân).” Nếu có người không phân biệt âm dương, đốt Giáng Chân hương gỗ âm, thì trường khí âm đó chỉ thu hút thêm tà khí và các thực thể có hại từ không gian khác đến. Trẻ em đeo theo người càng nguy hiểm. Hơn nữa, bột Giáng Chân hương gỗ âm không những không thể “cầm máu giảm đau, tiêu sưng liền da” mà còn gây chảy máu nhiều và làm thối rữa da thịt. Bởi vì khí bệnh và nghiệp lực trong người bệnh đều mang tính âm, dùng bột gỗ âm chỉ càng tăng thêm năng lượng cho nó. Nhất định phải dùng cây Giáng Chân hương mọc ở mặt nam của núi mới đạt được công hiệu thực sự.

Tôi xin lấy một ví dụ nữa, những người am hiểu trà có lẽ biết rằng, trà đá Vũ Di ở Phúc Kiến phần lớn mọc ở vùng cực âm phía bắc núi, vì vậy trong quy trình chế biến trà nhất định phải có công đoạn nung lửa, như hình dưới đây, công nghệ truyền thống dùng than gỗ nung, mục đích chính là để khử khí âm trong lá trà.

Trà nung lửa chưa đủ, do khí âm chưa được khử hết, một số người có thể trạng yếu khi uống sẽ xuất hiện phản ứng “say trà”, tức là đầu óc tỉnh táo nhưng tứ chi không có sức, thường xuyên uống loại trà này sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Đặc tính dược của thực vật là như vậy, trường khí hương khi đốt cháy cũng như vậy. Cùng một loại thực vật, hương liệu gỗ dương và hương liệu gỗ âm khi đốt cháy có tác dụng gần như ngược nhau. Ví dụ như hương hợp chất làm từ nguyên liệu chính là đàn hương Lão Sơn Ấn Độ gỗ dương có tác dụng thúc đẩy giấc ngủ, hiệu quả đặc biệt rõ rệt, giúp người mất ngủ lâu năm nhanh chóng đi vào giấc ngủ và không mơ, giúp đầu óc được nghỉ ngơi. Còn hương hợp chất được điều chế từ nguyên liệu chính là đàn hương Lão Sơn Ấn Độ gỗ âm có tác dụng tỉnh thần, giúp người giữ tỉnh táo, không buồn ngủ (dùng trong máy xông hương trên xe khi lái xe đường dài). Nguyên lý này dựa trên học thuyết âm dương tương sinh tương khắc của Đạo gia: không gian của loài người cũng chia làm hai mặt âm dương, thân thể con người ở mặt dương của không gian; nguyên thần của con người ở mặt âm của không gian. Khi hương hợp chất thuộc tính dương cháy, hương khí và khói tạo thành trường khí dương bám quanh cơ thể, ngăn cách trường khí âm xung quanh cơ thể vào ban đêm (môi trường ban đêm, trong nhà ngoài trời đều như nhau, trường khí âm lớn hơn trường khí dương), nguyên thần của con người không nhận được bổ sung từ trường năng lượng khí âm, nên sẽ buồn ngủ. Dùng cùng nguyên lý này có thể suy ra tại sao hương hợp chất từ đàn hương gỗ âm lại giúp người giữ tỉnh táo không muốn ngủ.

Xong huong 4
Bột đàn hương Lão Sơn Ấn Độ. (Lấy từ Weibo Triều Huy Hương Đạo)

Lý do nghệ thuật xông hương được gọi là “Hương đạo” là vì nó dựa trên lý thuyết âm dương tương sinh tương khắc, ngũ hành tương sinh tương khắc của Đạo gia, và mối quan hệ tương ứng giữa âm dương ngũ hành với các bộ phận cơ thể người để điều chế hương và đạt được mục đích dưỡng sinh và chữa bệnh. Đối với một người chế hương chuyên nghiệp, nếu đến nay vẫn không biết cách phân biệt thuộc tính âm dương của thực vật, không hiểu mối quan hệ cơ bản giữa âm dương ngũ hành với cơ thể người, thì nên học lại kiến thức cơ bản về văn hóa truyền thống, tránh làm ra những sản phẩm gây hại cho mình và người khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và người khác. Tôi xin lấy một ví dụ đơn giản để nói rõ tầm quan trọng của việc phân biệt âm dương trong nguyên liệu hương. Như hình dưới đây:

Xong huong 5
Một nén hương triện chữ “Phúc” (lấy từ Weibo Triều Huy Hương Đạo)

Giải thích: Đây là hương triện hình chữ “Phúc”, nhiều người làm nghề xông hương thích làm loại hương triện này, đốt lên khi khách đến thưởng hương uống trà để chúc phúc cho khách. Nhưng mọi người có từng nghĩ, nếu bột hương này được làm chủ yếu từ nguyên liệu gỗ âm, hoặc chỉ dùng một loại bột gỗ âm (như bột hoàng đàn), thì việc đốt hương triện chữ “Phúc” này giống như đốt “phúc âm” cho khách, chẳng khác nào nguyền rủa khách, và hậu quả còn nghiêm trọng hơn thế.

Khi mới học về xông hương và pha chế hương, tôi chưa hiểu rõ nguyên lý âm dương tương sinh tương khắc, cũng chưa nắm rõ đặc tính xông của một số nguyên liệu. Có lần tôi đã dùng bột hoàng đàn thuần âm làm nguyên liệu chính để pha chế một loại hương, rồi làm thử hương triện chữ “Phúc” này và đốt lên. Hôm đó trong phòng làm việc của tôi có một người trẻ tuổi, hai chúng tôi cùng thưởng hương. Khi hương triện cháy được khoảng hai phần ba, cả hai đều cảm thấy đầu óc trống rỗng không nghĩ được gì, người trẻ đó còn cảm thấy tay chân không có sức, người rất khó chịu, sau đó anh ấy đã về nhà đi ngủ. Tối hôm đó anh ấy bị sốt cao không hạ, toàn thân đau nhức, bị ốm nặng ba ngày mới hồi phục. Sau này tôi mới hiểu được nguyên lý, bởi vì trường năng lượng được tạo ra từ khí hương thuần âm, sau khi bám vào bề mặt cơ thể người bình thường, những thứ như khí bệnh, nghiệp lực trong cơ thể sẽ bị trường khí âm hút ra bề mặt cơ thể, khiến người đó sinh bệnh. May mà đó là một người trẻ tuổi, nếu là một người cao tuổi sức khỏe yếu, có thể sẽ gặp nguy hiểm đến tính mạng. Thêm một điểm nữa, tiến trình sinh mệnh của người bình thường đều không ổn định, việc tùy tiện đốt “phúc âm” cho người khác có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Vì vậy, dù các chữ triện như “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”, “Cát” đều là chữ may mắn, nhưng không thể tùy tiện đốt, đặc biệt là trong trường hợp không phân biệt được âm dương của nguyên liệu hương, tốt nhất là nên làm ít lại.

Ghi chú:

1. Kỳ nam trầm hương được coi là “vua” trong các loại trầm hương, quá trình hình thành của nó đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Theo nghiên cứu của tác giả, kỳ nam trầm hương được hình thành từ cây gỗ trắng bị sét đánh ở mức độ nhẹ đến trung bình, sau đó trải qua thời gian dài để kết tinh thành hương. Do cấu trúc gỗ của cây ở sườn nam núi tương đối xốp, khi bị sét đánh sẽ có độ nứt lớn hơn, cây gỗ trắng dần dần tiết ra dầu tạo thành nhựa lõi, cuối cùng hình thành kỳ nam trầm hương. Vì kỳ nam trầm hương được hình thành do sét đánh khiến nhựa lõi trong gỗ dương kết tinh thành hương, nên nó không chỉ chứa nhiều dương khí mà còn rất giàu tính dầu. Bột của nó chỉ cần xoa nhẹ trong tay là có thể vón lại thành cục. Khi nhai trong miệng sẽ cảm nhận được vị cay nhẹ, nồng nhẹ. Kỳ nam trầm hương có tác dụng cấp cứu và làm dịu các bệnh tim mạch cấp tính và bệnh mạch máu não, khi phát bệnh chỉ cần nhanh chóng lấy bột kỳ nam trầm hương nhai nuốt hoặc uống với nước, các triệu chứng sẽ được giảm ngay lập tức.

Dưới đây là một chuỗi hạt kỳ nam trầm hương chìm, trên đó có dính bột vì thường được bảo quản trong bột kỳ nam trầm hương cùng loại. Trong sách Bản Thảo Cương Mục • Mộc Bộ • Trầm Hương, Lý Thời Trân có viết: “(Hải Nam) Lê động lại lấy loại từ đông động núi Lê Mẫu ở Vạn An, tuyệt nhất thiên hạ, gọi là Hải Nam trầm, một miếng giá vạn tiền.” Đây chính là nói về kỳ nam trầm hương Hải Nam. Trầm hương thường không thể đạt đến mức một miếng giá vạn tiền vào thời nhà Minh, vì khi đó tài nguyên rừng còn phong phú, môi trường chưa bị phá hoại. Đến thời hiện đại, loại chuỗi hạt kỳ nam trầm hương chìm này, một gram cũng phải có giá ít nhất năm mươi nghìn nhân dân tệ trở lên.

Hiện nay, loại chuỗi hạt kỳ nam trầm hương chìm này, một gram có giá ít nhất năm mươi nghìn nhân dân tệ trở lên.

Xong huong 6
Hiện nay, loại chuỗi hạt kỳ nam trầm hương chìm này, một gram có giá ít nhất năm mươi nghìn nhân dân tệ trở lên. (Nguồn từ weibo Triều Huy Hương Đạo)

2. Sách Lễ Ký • Tế Pháp viết: “Đốt củi trên đàn Thái (đàn tế trời, ở phía nam kinh đô), để tế trời.” Một số học giả nghiên cứu về đạo hương hiện đại đã hiểu lầm “đốt củi” là việc người xưa đốt củi để khói bay lên tế trời. Sách giáo khoa “Hương Đạo Sư” cũng có cùng quan điểm này, do đó trang 2 mô tả: “Việc dùng hương trong tế lễ thời kỳ đầu chủ yếu là đốt ngải hương và củi gỗ.” Điều này đã biến nền văn minh rực rỡ của thời Tây Chu thành một xã hội nguyên thủy chưa khai hóa. Theo chú giải của nhà kinh học đời Đường Khổng Dĩnh Đạt: “Chất củi trên đàn, lấy ngọc và tế phẩm đặt lên trên củi rồi đốt, để khí bay lên trời.” Nhà kinh học đời Bắc Tống Hình Bỉnh chú giải: “Nghi thức tế trời là chất củi, đặt tế phẩm và lụa là lên trên rồi đốt, để khói hương bay lên trời, vì thế gọi tế trời là đốt củi.” Điều này cùng ý với câu trong Kinh Thi • Đại Nhã • Sinh Dân: “Khi hương thơm bắt đầu bay lên, Thượng đế đón nhận.”

Ngoài ra, chương 7 Kinh Thi • Đại Nhã • Sinh Dân có ghi: “Chuẩn bị và suy nghĩ kỹ, lấy ngải hương để nướng mỡ tế. Lấy dê đực để tế thần đường, nướng cho chín đều, để cầu năm tới tốt lành. (Đại ý: Chuẩn bị đầy đủ các vật phẩm tế lễ, lấy ngải hương nướng mỡ tế phẩm, để hương thơm bay lên trời. Lại nướng dê đực để tế thần đường, nướng thịt chín đều cả trong lẫn ngoài, để hương thơm bay xa, lên đến trời, Thượng đế hưởng thụ, phù hộ cho quốc gia năm tới mưa thuận gió hòa, ngũ cốc được mùa.)” Khổng Dĩnh Đạt chú giải: “Lấy cỏ ngải hương khô cùng với mỡ tế phẩm, đốt lên ở vị trí thần đường (thần đường sá), để hương thơm bay xa.” Đây là nói về việc dùng cỏ ngải phơi khô, đốt lên để nướng mỡ động vật khiến mùi thơm của thức ăn hòa với hương ngải bay xa. Ba câu sau theo chú giải của Khổng Dĩnh Đạt: “Về việc tế thần đường, lấy thịt tế phẩm bôi lửa mà nướng, thêm lửa để nướng chín, làm thành món ăn cho thần chủ.” Nghĩa là đốt củi nướng thịt, để hương thơm tự nhiên bay lên, Thượng đế đón nhận. Sau khi tế xong, một phần thịt nướng làm thức ăn cho “thần chủ” (người đại diện cho thần linh hoặc tổ tiên nhận tế lễ) (khi thiên tử tế lễ, thần chủ do thượng khanh đảm nhiệm). Do các triều đại đều có tế lễ, quy trình đều theo yêu cầu của Chu lễ, ít thay đổi, nên chú giải của Khổng Dĩnh Đạt về tế lễ vẫn đáng tin cậy.

Vì vậy, việc cho rằng thời Chu khi tế lễ dùng ngải hương và củi gỗ làm hương để tế là một sự hiểu lầm về kinh điển. Thực ra chỉ cần tra từ điển Hán ngữ về từ “đốt củi” cũng có thể có được lời giải thích chính xác.

3. Đời Đường, Từ Ngưng trong bài “Mộ Tô Tiểu Tiểu”: “Nước như khói hương uốn lượn, thuyền như chiếc lá, gang tấc Tây Lăng chẳng thấy chàng.” Đời Tống, Hoàng Canh trong bài “Đêm lạnh chợt có việc”: “Đọc sách bên cửa sổ ngồi cạnh đèn dầu, một quyển Ly Tao một nén hương trầm.” Đời Tống, Lục Du trong bài “Cuối năm ở Thành Đô mới thấy lạnh, nhấp rượu giải sầu”: “Thường xuyên nới lỏng dây lưng mũ lụa rộng, ấm trà sắp sôi nén hương trầm tàn dần.” Đời Tống, Lý Thanh Chiếu trong bài “Mãn Đình Phương”: “Nén hương cháy hết, bóng nắng rọi xuống móc rèm.”

Bài viết được dịch từ: https://www.epochtimes.com/gb/16/10/29/n8441382.htm

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang